Hiển thị các bài đăng có nhãn Âm thanh của trái đất. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Âm thanh của trái đất. Hiển thị tất cả bài đăng

17 thg 7, 2014

Các lớp hình thành thổ nhưỡng

  • Thổ nhưỡng là một lớp vật chất tơi xốp nằm trên bề mặt trái đất, cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho mọi sự sinh tồn của con người và động thực vật. Do đó, chúng ta cần phải tìm hiểu sâu hơn về nó .
  • Phương thức phát triển thổ nhưỡng là do chịu "tác dụng phong hóa  (xói mòn )" và "tác dụng phân hóa lớp đất ", sau đó mới hình thành thổ nhưỡng thực sự. Có hai tác dụng
Tác dụng phong hóa sinh học 
  • Rễ thực vật ăn sâu vào tầng có nhiều hạt khoáng chất, phần còn lại của thực vật thì nổi lên trên bề mặt đất, sau đó do sự di chuyển của động vật , khiến các khoáng chất hữu cơ được trộn lẫn với nhau , đồng thời sự xâm nhập của vi sinh vật, qua tác dụng tập hợp và phân giải các chất tiết ra khiến độ hòa tan và sự phân giải của các khoáng chất thay đổi , các tác dụng sinh học và hóa học khiến khoáng chất sinh ra nhiều vật chất không ổn định dễ bị xói mòn và di chuyển 
Tác dụng phân hóa lớp đất 
  • Các lớp đất vì được nước mưa hoặc nước băng tuyết tan ra thẩm thấu vào nên có tác dụng rửa trôi , khiến các vật chất ở lớp trên cùng bị trôi xuống lớp đất bên dưới, do vậy các lớp đất có thể chia thành lớp bị rửa và lớp nhận, hai lớp này sẽ tạo thành đất, ngoài ra còn một lớp đất nữa không bị ảnh hưởng bởi quá trình gột rửa này gọi là lớp đất cái. Mức độ phát triển của mặt cắt thổ nhưỡng được căn cứ theo mức độ rõ ràng của các lớp đất, chia thành 3 giai đoạn : đất trẻ , nghĩa là đất chưa phát triển hoàn chỉnh, đất chưa trưởng thành, nghĩa là phát triển chưa rõ ràng , đất trưởng thành , nghĩa là đất đã phát triển rõ ràng thành các lớp 

Nhân tố khí hậu trong việc hình thành thổ nhưỡng

  • Ảnh hưởng của khí hậu đối với việc hình thành thổ nhưỡng được chia thành hai phương diện là trực tiếp và gián tiếp
  • Ảnh hưởng trực tiếp là chỉ sự trao đổi nước và nhiệt lượng thường xuyên diễn ra giữa thổ nhưỡng và khí hậu , gây ảnh hưởng tới tình hình nước, nhiệt độ của đất, các tính chất của quá trình vật lý, hóa học trong đất
  • Một ví dụ rất nổi bật là : từ một nơi hoang mạc khô cằn hoặc một nơi có nhiệt độ thấp tới khu vực rừng nhiệt đới độ ẩm cao, mưa nhiều, cùng với sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa, hơi nước bốc hơi và các nguyên nhân khác, những tàn tích hữu cơ ngày càng nhiều, sự phong hóa sinh học và hóa học ngày càng mạnh, vỏ phong hóa ngày càng dày.

Tầm quan trọng của thổ nhưỡng

  • Thổ nhưỡng có độ phì nhiêu nhất định là lớp đất tơi xốp thích hợp cho thực vật phát triển, trong thổ nhưỡng có cả khoáng chất và các chất hữu cơ, quá trình hình thành thổ nhưỡng vô cùng lâu dài , lớp thổ nhưỡng dày 2,5 cm trên bề mặt cần tới hơn 100 năm mới có thể hình thành, nếu ở những nơi cằn cỗi thì thời gian cần tới còn lâu hơn. Lớp thổ nhưỡng này có tầm quan trọng như thế nào đây ?
  • Thổ nhưỡng được hình thành bởi khoáng chất , chất hữu cơ, nước và không khí. Khoáng chất và chất hữu cơ là ở dạng rắn, trong đó, tỷ trọng của khoáng chất là lớn nhất , là cơ sở của thổ nhưỡng . Các hạt khoáng chất tùy độ lớn nhỏ của chúng mà có thể chia thành hạt cát , limon, sét. Đất phì nhiêu nghĩa là tầng trên có nhiều limon, tầng dưới kết dính, khe hở nhỏ , có khả năng giữ nước , giữ phù sa , giữ ấm.
  • Chất hữu cơ trong thổ nhưỡng chủ yếu tập trung ở ngoài cùng , là một thành phần quan trọng của thổ nhưỡng , gây ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành độ phì nhiêu và sự phát triển của đất. Thông thường người ta hay coi hàm lượng chất hữu cơ trong đất là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá độ phì nhiêu của đất cao hay thấp.
  • Chất hữu cơ trong đất bao gồm các tàn tích sinh vật còn sót lại trong thổ nhưỡng và những chất mùn được hình thành qua sự phân giải của vi sinh vật có trong đất. Chất mùn thường kết hợp với khoáng chất có trong đất , trong điều kiện nhất định , chúng dần dần phân giải, giải phóng ra khí Nito , cung cấp cho thực vật hấp thu, đồng thời còn giải phóng ra khí cacbonic để giúp cây quang hợp 
  • Thành phần nước và không khí trong đất có tính lưu động rất lớn, sự vận động và thay đổi tỷ lệ của chúng có ảnh hưởng lớn tới độ phì nhiêu của đất. Khi không đủ nước , thực vật sẽ bị khô, nếu nước quá nhiều , không khí bị đẩy ra ngoài khiến nhiệt độ của đất giảm xuống, gây thiếu không khí trong thời gian dài, độ phì nhiêu của đất giảm. Mà trong điều kiện thổ nhưỡng thoáng khí, các hạt giống mới có thể nảy mầm, mọc rễ và phát triển khi đó sự hoạt động của các vi sinh vật trong đất mới phát triển. Do đó , tính chất của thổ nhưỡng tốt hay xấu có mối liên hệ mật thiết không thể tách rồi với ba yếu tố là nước , không khí và nhiệt độ.
  • Thổ nhưỡng là một hệ thống sinh thái độc lập , có mối quan hệ trao đổi vật chất năng lượng liên tục với môi trường xung quanh . Các vật chất và năng lượng đi vào thổ nhưỡng, mặt khác lại có tác dụng với môi trường bên ngoài tạo nên đặc tính phì nhiêu cho thổ nhưỡng.
  • Thổ nhưỡng có mối quan hệ vô cùng mật thiết với con người, bởi vì con người muốn tồn tại buộc phải phát triển nông nghiệp để có thức ăn. Sản xuất nông nghiệp trước tiên là trồng trọt với thổ nhưỡng là cơ sở vật chất, các sản phẩm nông nghiệp đều sinh sôi , nảy nở từ đất, thông qua phần rễ hút dưỡng chất và nước từ đất mới tiếp tục sinh sôi và phát triển . Tiếp theo , con người nuôi dưỡng động vật củng phải lấy thực vật làm thức ăn.
  • Để phát triển sản xuất nông nghiệp , mọi người buộc phải coi trọng việc khai thác nguồn đất , lợi dụng và cải thiện tốt nguồn đất. Khi con người biết sử dụng đất một cách hợp lý , chắc chắn sẽ khiến độ phì nhiêu trong đất không ngừng tăng cao , ngược lại sẽ khiến đất ngày càng cằn cỗi.

Tác dụng quang hợp của thực vật

  • Quang hợp là để chỉ quá trình các loài thực vật (có màu xanh ) thông qua lá của mình , sử dụng ánh sáng mặt trời để hấp thu khí cacbonic và nhả ra kí oxy. Quang hợp có hai giai đoạn :
Giai đoạn phản ứng sáng
  • Phản ứng hóa học của giai đoạn này được tiến hành trong nang của lá cây
Giai đoạn phản ứng tối
  • Phản ứng hóa học của gia đoạn này có thể tiến hành khi không có ánh sáng 
Phản ứng hóa học trong giai đoạn phản ứng tối được tiến hành trong chất nền của lá cây
Phản ứng sáng và phản ứng tối là một quá trình hoàn chỉnh của thực vật, khi tiến hành quang hợp, cả hai phải ứng này đều có mối quan hệ mật thiết với nhau

Thổ nhưỡng chia thành mấy lớp

  • Trước khi hình thành, trái đất là một quả cầu lửa khổng lồ với nhiệt độ rất cao, sau đó, nó dần dần nguội đi, trải qua hàng trăm triệu năm, các nham tương có nhiệt độ cao trên bề mặt trái đất ngưng tụ lại tạo thành lớp nham thạch vô cùng cứng rắn, trả thành nguồn ốc ban đầu của thổ nhưỡng, được gọi là "lớp cơ sở (cơ thạch )".
  • Lớp nham thạch có thể tích khổng lồ này qua hàng trăm nghìn năm chịu tác dụng xâm thực hai tầng của mưa và gió, kết cấu vững chắc của nó dần bị nứt ra thành những hòn đá vụn , cuối cùng trở thành các hạt đá nhỏ bằng hạt cát và đất .
  • Các hạt cát đã phải chịu sự xâm thực của mưa và gió dần dần xốp ra, do đó có thể khiến không khí và nước đi sâu vào giữa, thu hút các vi sinh vật sinh sôi , phát triển . Dần dần, phần nước ở giữa những hạt cát này tăng lên , tạo thành chất đất tương đối phì nhiêu, tầng hạt cát này được gọi là "lớp đất cái ". Trong lớp đất cái này thiếu dưỡng chất nên chỉ phù hợp với một số ít loài thực vật có khả năng sống dưới độ sâu 50- 60 cm tính từ bề mặt đất. Tầng này ít chịu ảnh hưởng bởi khí hậu trái đất , đồng thời cũng tương đối kết dính, quá trình chuyển hóa chất đất chậm, các chất dinh dưỡng có thể cung cấp ít nên sự phân bố rễ thực vật tương đối ít , do đó con người thường gọi phần thổ nhưỡng này là "đất sống  "hoặc "đất chết".
  • Nằm trên lớp đất này là lớp đất có các vật chất hòa tan từ mặt đất ngấm xuống qua nước mưa, được gọi là "lớp đất giữa "
  • Nó gồm có tầng bồi tích, tầng phong hóa, tầng nham thạch. Trong vùng thổ nhưỡng canh tác, kết cấu của lớp đất giữa thường rất kém, hàm lượng dưỡng chất thấp, rễ thực vật ít. Lớp đất giữa được canh tác khô ( hạn canh ) thường vẫn giữ được hình thái và tính chất của tầng bồi tích tự nhiên trước khi canh tác, ít chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi của canh tác. Trong đó "tầng phong hóa " không ngừng có những sinh vật bậc thấp sinh sôi, chết đi khiến lượng lớn các xác sinh vật được hình thành , tầng này cung cấp đủ dưỡng chất cần thiết cho thực vật bậc cao sinh trưởng. Sau khi các thực vật bậc cao chuyển sang tầng phong hóa, vì thể tích và tốc độ mọc cành của các thực vật này nhanh hơn thổ nhưỡng, hơn nữa lại có thể thông qua lá cây và rể để hấp thu ánh mặt trời , nước dưới đất , cacbonic và các muối vô cơ, tạo dưỡng chất cho cơ thể mình. Thêm vào đó là nhiều lá cây rụng và các chất hữu cơ khác dưới mặt đất tập trung và phân giải thành chất mùn , đi vào tầng phong hóa, tạo ra "tầng bồi tích "
  • Chúng ta biết chất mùn chính là nguồn phì nhiêu chính của thổ nhưỡng , phù hợp cho thực vật sinh trường nên còn được gọi là "lớp đất bề mặt ", thông thường lớp đất bề mặt có thể chia thành tầng trên và tầng dưới, tầng trên chủ yếu là tầng canh tác, rất phù hợp cho việc trồng trọt, còn được gọi là "tầng lọc nước ", là thổ nhưỡng canh tác, độ ph2i nhiêu , khả năng canh tác và sản xuất ở tầng này là tốt nhất, trong rừng, tầng này còn được gọi là "tầng lá rơi " vì nó tích tụ rất nhiều lá rụng . Tầng dưới bao gồm phần cao nhất của "tầng đáy" và tầng đất giữa , là thổ nhưỡng bán canh tác nên còn gọi là "tầng bán canh tác". Tầng đấy nằm dưới tầng canh tác, dày khoảng 6-8 cm . Tầng đáy điển hình có chất đất rắn , mật độ lỗ hổng ít, ít lỗ hổng to, nhiều lỗ hổng nhỏ, khả năng thoáng khí kém, khả năng thấm nước cũng kém, kết cấu thường có dạng phiến. Tầng này thường được hình thành do trong quá trình cày cuốc , lớp đất ở bên trên bị đẩy xuống dưới , qua trời mưa , tưới tiêu khiến các hạt đất bị bồi tích mà thành. Tầng canh tác là tầng thổ nhưỡng chịu ảnh hưởng mạnh nhất của việc canh tác, bốn phân, tưới tiêu , độ dày thường vào khoảng 20 cm . Tầng canh tác thường vì ảnh hưởng của hoạt động sản xuất , sinh vật bề mặt và khí hậu nên tơi xốp , nhiều lỗ thoát , khả năng thẩm thấu tốt , nhiệt độ thay đổi nhiều, vật chất chuyển hóa nhanh, có nhiều dưỡng chất. Rễ thực vật chủ yếu tập trung ở tầng này, ước tính chiếm khoảng 60% trở lên
  • Trong quá trình hình thành thổ nhưỡng , vì chịu nhiều ảnh hưởng của các nhân tố, không phải mọi mảnh đất đều có tầng cơ sở, tầng đất cái, tầng phân hóa, lớp đất bề mặt... Có một số mảnh đất thiếu hai tầng cơ bản. Dưới sự ảnh hưởng của khí hậu và môi trường thực vật khác nhau, các tầng thổ nhưỡng cũng có sự khác biệt , do đó hình thành các loại thổ nhưỡng khác nhau.
  • Đương nhiên, các loại thổ nhưỡng khác nhau có tác dụng với môi trường và giá trị sử dụng với con người khác nhau. Chỉ sau khi đã có cái nhìn rõ nết về sự hình thành các lớp đất , chúng ta mới biết sử dụng đất thế nào cho hợp lý .
  • Với những người yêu thích tự nhiên, bạn hãy mang theo một cái xẻng và cái chậu hoa nhỏ ra ngoài vườn lấy một lượng đất thích hợp, sau đó trồng một loài cây nhỏ mà bạn thích . Quá trình xới đất , tưới nước, bốn phân và nhìn cây lớn dần từng ngày một chắc chắn là vô cùng thú vị đấy.

Điều kiện sinh trưởng của thực vật trong thiên nhiên

  • Thực vật muốn sinh trưởng tốt trong môi trường thiên nhiên cần có nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài : nhân tố bên trong là gen, chỉ việc phải lựa chọn những cây giống tốt thì mới đảm bảo cho việc sinh trưởng, nhân tố bên ngoài là chỉ các vật chất và năng lượng mà thực vật có thể trao đổi với thế giới bên ngoài , thực vật cần có không gian sinh tồn thích hợp.
  • Rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển , sinh trường của thực vật, đa số chia thành nhân tố hình thành sản lượng và nhân tố bảo đảm sản lượng. Nhân tố hình thành sản lượng lại có thể chia thành : dưỡng chất, nước, khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng và không gian... 6 nhân tố hình thành sản lượng này kết hợp với nhau, nâng cao sản lượng của thực vật trong điều kiện có sự vân bằng giữa các nhân tố. Một khi nhân tố nào đó quá nhiều hoặc không đủ đều sẽ ảnh hưởng tới sản lượng và phẩm chất của thực vật. Nhân tố bảo đảm sản lượng chủ yếu là chỉ việc trừ sâu, cỏ dại, chúng đảm bảo cho sản lượng đã hình thành không bị giảm bớt vì phải chịu những tổn thất không đáng có .

Sự hoang mạc hóa của thổ nhưỡng

  • Hiện nay lượng đất bị hoang mạc hóa trên trái đất mỗi năm phát triển với tốc độ từ 50 tới 70 nghìn km vuông . Theo thống kê, trên 40% diện tích lục địa bị ảnh hưởng bởi sự hoang mạc hóa, khiến hơn 100 triệu người cũng phải chịu ảnh hưởng. Theo phân tích của các nhà khoa học, các khu vực bị hoang mạc hóa tập trung ở những nơi khô hạn và bán khô hạn
  • Trên trái đất có rất nhiều nhân tố sinh tồn quan trọng không thể thiếu, tầng thổ nhưỡng là một trong số đó. Chúng ta cần dựa vào đất để trồng trọt , chăn nuôi , các sinh vật khác cũng phải dựa vào đất để đi lại hoặc tìm kiếm thức ăn. Nếu không có đất, có nghĩa là chúng ta đã mất đi một phần lớn thức ăn đảm bảo cho việc sinh tồn, con người hoặc các loài sinh vật khác khó có thể tồn tại 
  • Nguyên nhân gây ra các hậu quả như trên là do sự hoang mạc hóa của đất đai, hay nói cách khác là một lượng lớn vật chất có trong đất bị mất dần đi , chất đất vốn tươi xốp già dần biến thành cát, cuối cùng là thành sa mạc, theo như hình thức khác nhau của sự hoang mạc hóa, có thể chia thành , hoang mạc hóa thủy thực , đất nhiễm phèn, hoang mạc hóa phong thực và thạch mạc hóa.
  • Khí hậu thay đổi là nguyên nhân chính gây ra hoang mạc hóa. Đặc biệt là mấy năm gần đây , hiện tượng nóng lên của trái đất ngày càng nghiêm trọng, khí hậu các nơi thay đổi đột ngột nguyên nhân là vì con người đã khai thác , phá hoại hệ thống rừng, gây ra mất cân bằng sinh thái, làm ảnh hưởng tới khí hậu .
  • Ngoại trừ diện tích các vùng sa mạc ngày càng mở rộng các nơi khác xuất hiện hoang mạc hóa chủ yếu là ở các khu dân cư nghèo. Người dân có cuộc sống nghèo khổ thường ỷ lại vào việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương, ví dụ: gỗ , canh tác, nguồn nước ngầm... thêm vào đó là dân gia tăng nhanh chóng, nguồn năng lượng bị khai thác ngày càng nhiều, khiến đất không kịp tự phục hồi, cuối cùng , con người không thể tiếp tục sống ở đó , chỉ đành di dời sang nơi khác.
  • Diện tích hoang mạc hóa của Trung Quốc rất lớn, phân bố rộng loại hình cũng nhiều, hiện nay, diện tích đất bị hoang mạc hóa của toàn Trung Quốc đã vượt quá 2.622.000 km vuông , chiếm 27,3% tổng diện tích đất của cả nước, trong đó, diện tíh sa mạc hóa vào khoảng 1.689000 km vuông , phân bố chủ yếu ở 13 tỉnh thuộc vùng Tây Bắc , Hoa Bắc , Đông Bắc.
  • Hoang mạc hóa và hiện tượng sa mạc hóa đất đai mà nó gây ra được gọi chung là "bệnh loét địa cầu ", biểu hiện nguy hại của nó trên nhiều phương diện, đã trở thành vấn đề môi trường nghiêm trọng ảnh hưởng tới xã hội sự phát triển kinh tế bền vững .
  • Ở nhửng nơi bị sa mạc hóa nghiêm trọng, rất nhiều đồng ruộng bị mất mùa , sản lượng lương thực giảm thấp, không ổn định khiến sự phát triển kinh tế bị đình trệ và ảnh hưởng nghiêm trọng tới vòng tuần hoàn của môi trường sinh thái.
  • Phạm vi ảnh hưởng của sự thoái hóa đất không chỉ liên quan tới canh tác mà còn ảnh hưởng tới đất rừng, đất chăn nuôi... Phòng chống thoái hóa đất là một trong những nội dung quan trọng trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Chúng ta cần phải coi trọng vấn đề có liên quan tới sự tồn tại và sản xuất của con người này, bảo vệ tốt "bà mẹ trái đất " của chúng ta .

Làm thế nào để phòng chống hoang mạc hóa đất đai

  • Căn cứ theo quy luật vận động của nguyên lý xâm thực của sức gió và sa mạc hóa do gió, có rất nhiều kỹ thuật phòng ngừa sự hoang mạc hóa, trong đó nguyên lý và các con đường phòng ngừa có thể quy nạp như sau :
1. Tăng độ thô của bề mặt đất, giảm bớt tốc độ gió thổi trên bề mặt
2. Ngăn tác dụng trực tiếp của khí lưu đối về bề mặt đất
3. Năng cao tốc độ gió cát, nâng cao khả năng kháng thực của thổ nhưỡng hoặc lớp cát
4. Có thể thay đổi quy luật vận động của gió cát
  • Nếu khi tiến hành khai thác chúng ta có thể tuân thủ các nguyên lý trên, vật thì mức độ hoang mạc hóa ở các thành phố sẽ được khống chế

15 thg 7, 2014

Nguyên nhân của sự lở núi và đá rơi

  • Sự cố lở núi rất thường gặp trong cuộc sống, trên báo đài thường xuyên đưa những tin tức về các vụ việc này. Ví dụ: một thông ở vùng núi nào đó bỗng dưng bị đá núi lở xuống và chôn vùi . Vỉ lở núi hay xảy ra vào ban đêm , khi mọi người đang ngủ say nên nhiều người không kịp chạy trốn, khiến mức độ thương vong và tổn hại tài sản càng nghiêm trọng. Do vậy khi nhắc tới lở núi , mọi người đều thấy hoảng sợ, bởi vì không thể nào biết trước tai nạn này sẽ xảy ra vào lúc nào, hơn nữa một khi đã xảy ra , nó không chỉ phá hoại nhà cửa, và đường sá, làm tắc nghẽn sông ngòi mà còn có khả năng cướp đi sinh mạng của rất nhiều người . Vỉ sao một ngọn núi vững chắc như vậy bỗng dưng lại bị lở núi hoặc có đá rơi ?
  • Hiện tượng lở núi và đá rơi được gọi là hiện tượng "sạt lở " trong địa lý học , đa số đều xảy ra ở những dốc núi có độ dốc 45 độ. Vì những hòn đá nằm trên dốc có kẽ nứt, qua sự phong hóa, xâm thực của nước mưa hoặc động đất, chúng rất dễ bị nứt thành các hòn đá nhỏ, nếu lại chịu sức hút của động lực, đương nhiên chúng sẽ lăn xuống với tốc độ lớn. Còn về mức độ sạt lở thì tùy thuộc vào độ nghiêng của núi , thông thường, núi càng dốc thì tình trạng sạt lở càng nghiêm trọng.
  • Mấy năm gần đây , do con người không ngừng mở rộng phạm vi canh tác và xây dựng lên gần vùng núi cao khiến chân núi bị phá hoại nghiêm trọng bởi ngoại lực, phần đất cát nổi bên trên bị nước mưa rửa trôi , ngoài ra còn bị xâm thực bởi nước mưa và nước ngầm , khiến phần lớn đất trên dốc núi bị mất trọng tâm, gây ra hiện tượng lở núi . Nếu nhẹ thì đất cát sẽ trượt xuống khỏi dốc núi , nghiêm trọng thì có thể gây ra hoạt động chuyển dịch mạnh , ví dụ như nghiêng, sạt lở,...
  • Khi hoạt động sạt lở kết thúc , vùng chân núi hoặc dưới vực sẽ xuất hiện có nhiều hòn đá chất lên nhau. Những hòn đá to nhỏ với hình dạng khác nhau này được địa lý học gọi là "đống đá đổ ". Những hòn đá  trong đống đá đổ này sau khi bị sạt lở trở thành những hoàn đá nhỏ hơn, có thể là nơi cho các thực vật bậc thấp sinh trường, đi sâu vào lòng đất tiến hành quá trình tuần hoàn, ngày càng nhiều hơn , lại trở thành một lớp đất mới để thực vật sinh trường. Nếu sau khi hiện tượng sạt lở xuất hiện , đất cát bị trôi đi, chân núi tiếp tục bị nước xâm thực không ngừng sinh ra hiện tượng sạt lở, tạo thành một vòng tuần hoàn ác tính.
  • Vậy thì làm thế nào để ngăn ngừa tai nạn này xảy ra ?
  • Trước tiên , chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân gây sạt lở sau đó tiến hành làm phẳng hoặc giảm bớt độ nghiêng của núi , ồng thời , ngăn chặn hiện tượng , phá hoại nhân tạo hoặc xâm thực của nước ở dưới chân úi .
  • Trồng cây vo, đảm bảo đất trên diện rộng là phương pháp phòng ngừa tốt nhất. Còn về việc đối phó với đá lở, thì trước tiên cần tìm hiểu quy luật hoạt động của đá lở ở địa phương , ở những nơi thích hợp xây dựng các trang thiết bị để ngăn ngừa việc lở đá 
  • Lở núi và lở đá không chỉ gây ra những tổn thất về kinh tế cho con người mà còn có lúc còn cướp đi sinh mạng của chúng ta. Đa số những người sống ở các sơn thôn hay ở gần dốc núi thường bị những vụ sạt lở cướp đi nhà cửa, ngời thân, tổn thất rất nghiêm trọng .
  • Mặc dù chúng ta không thể biết trước tai nạn này sẻ xảy ra vào lúc nào , nhưng chỉ cần thận trọng làm tốt công tác phòng ngừa bình tường đề cao cảnh giác, lúc nào cũng có ý thức về nguy cơ là có thể giảm bớt những thương hại có thể xảy ra do hiện tượng này mang lại .
  • Cho dù gặp hiện tượng sạt lở thì cũng phải giữ bình tĩnh . Hãy nghe theo hướng dẫn của bố mẹ, đi theo những người lớn có kinh nghiệm , nhanh chóng rời khỏi hiện trường, đừng đứng nguyên ở chỗ cũ , cũng đừng vì sợ hãi mà chạy lung tung.

Sạc lở và xói mòn đất đá

  • Sạc lở là chỉ do ảnh hưởng của sự xói mòn đất trên đốc núi, hay do mưa xuống, động đất, sự phá hoại của con người khiến tầng đất và đá trên núi bị đổ xuống theo chiều nghiêng của dốc núi. Sạt lở còn được gọi là "lở núi "...
  • Xói mòn đất đá là chỉ dưới tác động của mưa, băng tuyết tan,... khiến lượng lớn đất đá bị trôi xuống theo triền dốc 
  • Đặc điểm của sạt lở là "lăn xuống " theo triền dốc, đặc điểm của xói mòn là "trôi xuống " theo rảnh . Cho dù là "lăn xuống " hay "trôi xuống " thì đều hoạt động theo nguyên lý vật chất chuyển động từ cao xuống thấp dưới tác dụng của trọng lực

Những nguy cơ mà đất phải đối mặt

  • Cùng với sự tăng trường dân số nhanh chóng, nhu cầu của con người về lương thực thực phẩm và không gian sống cũng tăng cao, đất lại bị khai thác hoặc bị các công trình kiến trúc chiếm dụng quá nhiều khiến mặt đất phải đối mặt với các nguy cơ chưa từng có :
1. Ô nhiểm nguồn tài nguyên đất :
  • Các loại chất hữu cơ độc hại như thuốc trừ sâu , kim loại nặng nước thải công nghiệ, khí thải công nghiệp, khí thải từ xe cộ , vật chất phóng xạ, vi sinh vật gây bệnh, rác rưởi,... trực tiếp hoặc gián tiếp xâm nhập vào lòng đất, phá hoại sinh thái thổ nhưỡng vốn có, thậm chí còn sản sinh ra các loại cây trồng có bệnh 
2. Giảm diện thích đất :
  •  Phá rừng bừa bãi khiến một lượng lớn đất đai bị xói mòn, diện tích đất giảm nhiều 
3. Kiềm hóa đất đai :
  • Ở những khu vực hơi nước bốc hơi nhiều hơn cả lượng mưa, việc tưới tiêu của con người khiến lượng muối trong đất tăng lên, khiến đất bị kiềm hóa.
4. Hoang mạc hóa và xâm thực canh tác 
  • Theo như con số báo cáo của liên hợp quốc, các hoạt động không thích hợp của con người và những thay đổi khí hậu đã khiến trên 41 % đất trên trái đất không ngừng bị thoái hóa, diện tích hoang mạc hóa ngày càng lớn. Tính tới nay, đã có hơn 110 quốc gia phải đối mặt với nỗi lo từ hoang mạc hóa đất đai, trong đó có 135 triệu người phải đối mặt với nguy cơ bị di dời. Hàng năm trên toàn ầu, những tổn thất kinh tế sinh ra do hoang mạc hóa đất đai lên tới 42 tỷ USD.